Trang chủ » Hành Trình Căn Bản Của Phật Tử
 
 

Ai đang dẫn Ta đi lang thang

 

Ai đang dẫn Ta đi lang thang

Kính mong rằng, người Phật tử chân chính hãy nên thận trọng và ý thức từng hành động, lời nói, suy nghĩ của mình, đừng để làm tổn hại cho ai, thì khả dĩ ta còn có thể đi đến chỗ thiện lành, tốt đẹp để tiếp tục đời sống mới được nhiều an vui, hạnh phúc hơn.


Ai đã từng trải qua nhiều khắc khoải, khổ đau trong cuộc sống mà vẫn có lòng tốt và sự nhiệt tình, là nấc thang thăng tiến của các bậc hiền Thánh trong dòng đời nghiệt ngã, là kho tàng quý báu cho người biết chịu khó, kiên trì, bền chí, và cố gắng đứng lên sau khi thất bại; ngược lại, nó là hố sâu vực thẳm cho những kẻ hay ỷ lại, cầu cạnh vào người khác, mà không chịu cố gắng nỗ lực vươn lên làm mới lại chính mình.

Bản chất con người lúc nào cũng có hai mặt ưu điểm và khuyết điểm. Cuộc đời cũng lại như thế, tốt xấu, thành bại, giàu nghèo, khổ vui, sống chết v.v…

Trong thế giới loài người, sự hưởng thụ ngũ dục là điều ai cũng đam mê, tham muốn, ham thích như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon mặc đẹp, ngủ nhiều, và các tiện nghi vật chất khác. Đa số con người đều bị trói buộc bởi sự chấp ngã của chính mình. Chính vì vậy mà bị gió nghiệp cuốn trôi, nên cứ mãi chìm đắm trong biển khổ, sông mê không có ngày thôi dứt. 

Vậy mà, có một người đã dám từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, và địa vị cao nhất trong xã hội; người ấy đã vượt thoát mọi sự trói buộc của thế gian để sống đời vô ngã vị tha; đó chính là Bồ Tát Sĩ Đạt Ta.

Từ một người nghèo khổ bần cùng, sống thiếu thốn khó khăn, để trở thành một người giàu sang phú quý thì dễ. Nhưng từ một ông hoàng thái tử chuẩn bị kế thừa ngôi vua, có quyền hành cao nhất thiên hạ, được ăn trên ngồi trước, và hưởng thụ mọi nhu cầu cần thiết, mà vẫn chấp nhận thân phận của kẻ khất sĩ ăn xin để hướng dẫn mọi người biết được chân lý cuộc đời, nhằm chuyển hóa nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc, thì quả thật rất khó.

Như Lai Thế Tôn là bậc hy hữu và hiếm có nhất trong loài người, là một nhân cách siêu việt về đạo đức tâm linh. Ngài dấn thân phục vụ vì lợi ích tất cả chúng sinh mà không biết mệt mỏi, nhàm chán, với tình yêu thương chân thật, bằng trái tim hiểu biết vì tình người trong cuộc sống và lợi ích tha nhân.

Đi ngược lại các truyền thống từ xa xưa, một số người cho rằng, có một thần linh thượng đế ban phước giáng họa mà đấng tối cao đã sắp đặt và tạo ra. Chính hành động dấn thân vì lợi ích tha nhân, và việc làm cao thượng của Thế Tôn đã làm cho vua cha Tịnh Phạn thời gian đầu hiểu lầm vì chưa hiểu thấu được giá trị cuộc đời, nên nhà vua đã trách móc Ngài rằng:

“Tôi không ngờ có một đứa con hèn hạ và yếu đuối như ông, ông đã làm mất hết phẩm chất danh giá của dòng tộc cao quý từ ngàn xưa cho đến nay mà đấng Phạm Thiên đã ban cho. Ông đã bôi nhọ truyền thống vinh quang tốt đẹp đã có từ mấy ngàn năm nay, để trở thành một kẻ ăn xin thấp hèn mà không chịu thừa hưởng cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, thần dân thiên hạ. Ông vô tình phỉ báng sự tôn quý mà đấng Phạm Thiên đã ban cho dòng tộc Sakya của chúng ta. Tại sao ông không chịu tu tập theo truyền thống Bà La Môn để được ăn trên ngồi trước, có kẻ nô lệ phục dịch? Ông đã làm ô nhục dòng dõi vua quan Sát Đế Lợi đã có từ lâu đời”.

“Dạ thưa cha, xin người hãy mở rộng tấm lòng mà cảm thông và tha thứ cho con. Đây không phải là ăn xin của kẻ thấp hèn nghèo đói, mà là con đường sáng và cao thượng của các vị Bồ Tát. Vì thương xót chúng sinh cứ mãi chìm đắm trong biển khổ sông mê, nên các vị chịu khó, chịu khổ tu tập hành trì, làm chủ bản thân, để phá tan si mê, tối tăm, mờ mịt, giúp mọi người vượt qua cạm bẫy cuộc đời mà sống đời bình yên, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ”.

Một con người khất sĩ dù không có tài sản sở hữu riêng tư, không có quyền cao chức trọng, nhưng tự do tự tại làm chủ bản thân, đã chứng minh đời không có gì phải chiếm hữu mà con người bị bóc lột và tàn sát giết hại lẫn nhau, vì không nghe theo sự phán xét của bề trên. Như Lai Thế Tôn đã thuyết phục được vua cha có cái nhìn cảm thông và bao dung hơn, hiểu biết sâu sắc bằng trái tim yêu thương, để rồi sau này tên tuổi của dòng họ Thích không bị mai một và mất đi, mà còn vang danh khắp toàn nhân loại; vì nhân cách cao thượng của Ngài đã vượt thoát mọi sự ràng buộc, dính mắc trong cuộc đời, mà vẫn giúp cho mọi người sống có yêu thương bằng trái tim hiểu biết, mà hay làm chủ bản thân để vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời.

Thường thì con người thế gian lấy bản ngã làm tâm điểm, nhân danh đấng thần linh thượng đế, để tạo ra sự bất công và muốn chiếm hữu, nên đã gây ra nhiều tội lỗi cho muôn loài vật. Tất cả những điều này là do cái thấy biết sai lầm của một số người thế gian, họ lạm dụng sự thiếu hiểu biết của nhân sinh mà áp đặt số mệnh, để con người phải chấp nhận phục tùng một cách mù quáng như một tín đồ, mà không có quyền góp ý xây dựng trên tinh thần yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, sẻ chia, để cùng nhau sống với trái tim hiểu biết.

Từ cái thấy thân kiến là cái thấy sai lầm về thân, tức chấp vào sự hiện hữu của cơ thể con người là tôi, là của tôi, nên từ đó bắt đầu chiếm hữu. Ai đụng đến cái tôi này thì có sự phản kháng mãnh liệt, do đó dấy khởi phiền não tham sân si, mà dẫn đến tranh đấu giành phần thắng lợi về cho riêng mình để loại trừ lẫn nhau.

Quan niệm về thân kiến này sẽ trường tồn mãi mãi và chỉ có hai con đường để ta chọn lựa, một là lên thiên đàng hưởng phước báo tối cao, hai là xuống địa ngục chịu khổ đau lâu dài. Đó là cái thấy sai lầm do không có sự thể nghiệm thực tế, không có sự trải nghiệm bản thân, mà làm cho con người mất hết quyền làm chủ chính mình trong cuộc sống hiện tại.

Biên kiến là cái thấy một bên, nghĩa là có một linh hồn bất tử sống đời không thay đổi, tức là thường còn mãi mãi và quan niệm chết là hết, tức là không còn gì nữa, chỉ có một đời sống hiện tại mà thôi. Linh hồn bất tử là cái hồn sáng không bao giờ mất, nói như vậy có phù hợp với chân lý hay không?

Và xin thưa với toàn thể chư huynh đệ pháp lữ gần xa, chúng ta sẽ khám phá ra thân phận của kiếp người qua lời Phật dạy như sau:

THẮC MẮC THÂN PHẬN CON NGƯỜI

Ai đã từng làm người cũng phải suy nghĩ và thắc mắc rằng, tại sao cuộc sống này có sự sai biệt quá lớn giữa người với người, giữa người với vật. Người sống lâu, kẻ chết yểu, người khỏe mạnh, kẻ ốm đau, người nhan sắc đẹp đẽ, kẻ mặt mày xấu xí, người giàu sang, quyền cao chức trọng, kẻ nghèo khổ, bần cùng, thấp kém; cho đến phần tinh thần của mỗi người cũng khác nhau, kẻ thông minh người ngu tối, kẻ khôn ngoan người si dại v.v... và v.v...

Những thăng trầm được mất trong cuộc đời với muôn vàn sự sai khác và quá sâu kín, nhiệm mầu vượt khỏi tầm hiểu biết của con người; nên khi sống, họ không biết mình từ đâu đến, và sau khi chết không biết mình đi về đâu. Chính vì vậy, họ đành chấp nhận giao phó cuộc đời mình cho đấng tối cao quyết định. Để rồi, con người trở thành kẻ phục vụ cho đấng thần linh thượng đế, và chấp nhận an phận nơi niềm tin đó một cách si mê, mù quáng, nên thế nhân thường gọi là tín đồ.

Chỉ có chân lý và cái thấy đúng như thật do sự trải nghiệm trong tu tập bằng cách quán chiếu, soi sáng lại chính mình mới giúp ta thoát khỏi sai lầm này, mà biết cách làm chủ bản thân. Mình làm lành được hưởng phước báo tốt đẹp, mình làm ác chịu quả báo sa đọa khổ đau, chân lý đó chính là luật nhân quả nghiệp báo.

Trên đời này có hai hạng người. Một hạng cho rằng, sau khi chết là hết, chỉ có một đời sống hiện tại, làm ác hay làm thiện gì cũng đều chung một số phận như thế. Đến khi nhắm mắt xuôi tay, từ giã cõi đời, thân thể trở về cát bụi và sự thấy nghe hay biết cũng không còn gì nữa, coi như hoàn toàn mất hẳn.

Hạng người thứ hai cho rằng có một linh hồn bất tử. Sau khi chết, thân thể tan rã, bại hoại, nhưng linh hồn vẫn còn mãi theo thời gian, nên người chết sinh người, trời chết sinh trời, thú vật chết sinh thú vật, trước sau như một không thể đổi thay. Vậy chết là hết hay sao? Làm gì có chuyện đó được! Nếu không hết thì làm sao mất hẳn? Chết không phải là hết, mà chỉ là thay hình, đổi dạng, để có một đời sống mới tiếp theo, tùy sự gieo tạo nghiệp nhân tốt hay xấu ngay nơi hiện tại mà cho ra kết quả ở tương lai.

Chúng ta hãy thử xem xét, quán sát thực tế mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này, dù là một hạt cát, hạt bụi, coi có thứ gì mất hẳn hay không? Thường cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt, chúng chỉ thay hình đổi dạng tùy theo nhân duyên thuận và nghịch. Mọi hiện tượng sự vật cũng đều như vậy, huống chi con người có sự nhận thức hiểu biết nhất trong các loài chúng sinh, vậy thử hỏi làm sao chết là hết được?

Nhưng, nếu ai bảo rằng linh hồn là thường còn vĩnh viễn, thì như vậy cũng sai sự thật quá xa, có cái gì không thay đổi mà ở yên một chỗ đâu? Có người khi nhỏ nghèo khổ, khó khăn, nhưng khi lớn lên nhờ quyết chí làm ăn đã trở thành giàu sang, nhiều tiền bạc của cải, vậy có gì là cố định? Linh hồn có nghĩa là cái hồn sáng, đã sáng thì trước sau như một không bao giờ đổi thay, nhưng thực tế con người trên thế gian này có sự sai biệt với nhau quá lớn.

Chính vì quan niệm sai lầm như thế, nên ai giàu có quyền cao chức trọng sẽ ỷ lại, cứ nghĩ rằng mình là kẻ xứng đáng được thần linh thượng đế ban cho, nên họ mặc tình gây tạo tội lỗi mà chẳng biết gieo trồng phước đức. Do đó, họ lạm dụng quyền cao chức trọng, bóc lột, chèn ép, hiếp đáp mọi người, để tóm thâu tài sản, của cải vật chất về cho riêng mình mà ngang nhiên thọ hưởng. Đến khi phước hết, họa đến, họ đành cam chịu tan nhà nát cửa, mất mát đau thương, gia đình ly tán. Lúc này, mọi sự cầu khẩn, van xin đấng tối cao trở thành vô ích.

Còn người nghèo hèn nghĩ rằng số phận của mình đã được an bài như thế, nên không chịu cố gắng, siêng năng, tinh cần làm việc và hướng thượng, do đó càng ngày càng rơi vào chỗ tối tăm mờ mịt, như người tối cứ lẫn quẫn trong chỗ u ám tối tăm mà sống đời si mê dại dột. Thế thì hai quan niệm trên có còn phù hợp với chân lý cuộc đời hay không? Để biết được sự thật của kiếp người, chúng ta hãy lắng đọng tâm tư, buông xả hết mọi hiểu biết, thành kiến riêng tư để nghe đức Phật trình bày và chỉ dạy như sau.

Ngày xưa, khi Phật còn tại thế, một thanh niên vì thấy sự bất bình đẳng và những sai biệt trong xã hội nên muốn tìm ra sự thật của kiếp người. Anh đã thưa hỏi nhiều vị đạo sư nổi tiếng mà chưa một vị nào giải đáp được thỏa mãn tâm tư, nguyện vọng của anh, nghe đồn Phật là bậc xuất trần thượng sĩ, có thể giải quyết được mối nghi ngờ của nhiều người bất kể là tín đồ tôn giáo nào, anh đã tìm đến đức Phật. Sau khi đảnh lễ và vấn an đức Thế Tôn xong, anh cung kính ngồi sang một bên thưa hỏi đức Phật:

“Vì cớ sao có sự bất công và sai biệt quá lớn của tất cả chúng sinh trên thế gian này, kẻ quý phái cao thượng, người hạ liệt thấp kém, người sống lâu, kẻ chết yểu, người giàu sang, kẻ nghèo khổ, người nhiều bệnh, kẻ ít bệnh, người quyền cao chức trọng, kẻ nô lệ thấp kém, người đẹp đẽ dễ thương, kẻ xấu xí khó nhìn, người thông minh sáng suốt, kẻ ngu dốt tối tăm?”

Đức Phật tóm gọn lại bằng một ý chính như sau:

“Này chàng thanh niên, các chúng sinh loài có tình thức là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, họ được sinh ra từ nghiệp và họ bị nghiệp trói buộc. Do đó, hiện tại có kẻ thấp hèn và cao thượng, tùy theo nghiệp nhân tốt xấu đã gieo tạo trong quá khứ. Đức Phật trả lời quá súc tích và cô đọng làm chàng thanh niên không thể hiểu rõ nghĩa lý sâu xa, nên mới yêu cầu đức Phật giải thích cụ thể từng chi tiết : 

Phật dạy: “Tất cả mọi sự sai biệt giữa con người và con người là do nghiệp của ta đã tạo ra từ thân miệng ý, tâm suy nghĩ chân chính, miệng nói lời thiện lành, thân đóng góp sẻ chia, thì được hưởng quả an vui hạnh phúc; ngược lại, gieo nhân xấu ác thì bị quả sa đọa khổ đau, không ai có quyền xen vô chỗ này để định đoạt và sắp đặt, nên có người tốt, kẻ xấu là do mình”.

“Do tạo nghiệp gì khiến con người thọ mạng lâu dài, sống khỏe mạnh, và do tạo nghiệp gì khiến cho người chết yểu, thọ mạng ngắn ngủi?”

“Người không tạo nghiệp giết hại chúng sinh thì được mạng sống lâu dài. Người tạo nghiệp sát sinh hại vật, dứt mạng sống của chúng sinh, nên bị chết bất đắc kỳ tử do tai nạn gây ra, hoặc bị người vật hại lại”.

“Do tạo nghiệp gì thân người được khoẻ mạnh, và do tạo nghiệp gì mà thân hay bệnh tật đau yếu?”

“Do nghiệp ác hay hành hạ đánh đập chúng sinh làm cho người đau khổ, nên thọ thân hay bệnh tật đau yếu. Và do nghiệp lành an ủi giúp đỡ, sẻ chia và nâng đỡ người bất hạnh khổ đau qua những tai nạn khốn khó nên được thọ thân khỏe mạnh vui tươi”.

“Do tạo nghiệp gì mà sinh ra trong gia đình giàu sang sung sướng, có nhiều tiền bạc, tài sản của cải, và do tạo nghiệp gì mà sinh ra trong gia đình nghèo khổ, thiếu thốn, khó khăn?”

“Do đời trước biết làm điều thiện lành tốt đẹp, hay bố thí cúng dường, hoặc chia sẻ giúp đỡ người nghèo khổ bệnh tật, nên đời này được sinh ra trong gia cảnh giàu sang sung sướng, có nhiều tiền bạc của cải. Người ở đời trước do nhân không biết bố thí cúng dường, không biết giúp đỡ người bất hạnh nghèo khó, lại còn hay gian tham trộm cướp, lường gạt của người, nên đời này sanh ra trong hoàn cảnh cơ cực, nghèo đói, thiếu thốn, khó khăn”.

“Do nghiệp gì người sinh ra được thông minh sáng suốt, và do nghiệp gì người sinh ra lại ngu dốt tối tăm?”

Người đời trước do siêng năng tinh cần học hỏi tìm hiểu chân lý, ưa thích giúp người được học hỏi hiểu biết, nên đời này được thông minh sáng suốt. Người ở đời trước do lười biếng học hành, không chịu tìm hiểu chân lý, lẽ thật của cuộc đời, lại hay cản ngăn sự học hỏi của người khác, nên đời này bị vô minh tối tăm mê mờ”.

Đứng về khía cạnh cuộc sống với vô vàn sự sai khác, con người cảm thấy nhỏ bé trước bầu vũ trụ bao la này, nhiều người đành cam chịu thân phận thấp hèn của mình bởi do bàn tay thần linh thượng đế đã sắp đặt.

Một số người được sống trong giàu sang sung sướng, có nhiều tiền bạc của cải và quyền thế trong xã hội, họ nghĩ rằng do đấng tối cao đã ban cho, nên họ rất trân trọng quý kính mà tôn thờ một cách cuồng tín, do đó họ mặc tình gieo tạo tội lỗi, bất chấp luân thường đạo lý. Chính vì quan niệm sai lầm trên, đến khi phước hết, họa tới, họ đành cam chịu sống đời đọa lạc tối tăm, cho dù cố gắng cầu nguyện van xin đấng tối cao cũng vô ích, giống như đá nặng thì phải chìm dưới nước.

Nhưng trên thực tế, người được hưởng an vui hạnh phúc thì ít, kẻ bất hạnh khổ đau thì lại quá nhiều. Nếu thần linh thượng đế có đủ năng lực ban vui cứu khổ, đáng lẽ phải giúp đều hết cho tất cả chúng sinh, tại sao chỉ giúp giai cấp thống trị mà không giúp giai cấp nô lệ như ở đất nước Ấn Độ hiện nay? Thật ra, trong cuộc đời này, tất cả mọi thứ sai biệt như nên hư, tốt xấu, hơn thua, phải quấy, thành bại trong cuộc sống đều do mình tạo ra từ thân miệng ý, mình làm việc thiện lành tốt đẹp thì được hưởng phước báu bình yên hạnh phúc, mình làm điều xấu xa tội lỗi thì chịu quả khổ đau không có ngày thôi dứt; nó theo ta như bóng với hình dù trăm kiếp ngàn đời vẫn không mất, khi hội đủ nhân duyên thì quả báo hoàn tự hiện.

Nghiệp lực tuy không có hình tướng cụ thể, không ai có thể trông thấy được, nhưng nó có sức mạnh chi phối, cuốn hút, hấp dẫn lạ thường. Cũng như gió, tuy không thấy hình tướng ra sao mà nó có thể làm nên phong ba bão táp, cuốn trôi tất cả khi đủ nhân duyên. Nghiệp lực cũng lại như thế.

Đôi lời tâm sự chân thành xin được kết nối yêu thương cùng chư huynh đệ pháp lữ gần xa một chút tâm tình qua đề tài “Ai dẫn ta đi lang thang?”. Trong phạm vi phần hai này, chúng tôi chỉ giải thích nghiệp sát sinh hại vật, vì nó là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh, oán giận, thù hằn, vay trả không có ngày thôi dứt.

BỐN BÀ VỢ YÊU QUÝ

Đứng trước dòng thác lũ cuộc đời nên hư, thành bại, phải quấy, tốt xấu, hơn thua và vô vàn sự cám dỗ, con người cứ như thế loanh quanh, lẫn quẫn trong vòng oan gia trái chủ, do đó mà tạo ra không biết bao điều tội lỗi.

Có ông trưởng giả nọ, không biết gieo tạo nghiệp nhân gì mà có đến bốn bà vợ. Bà thứ nhất được cha mẹ hai bên chấp nhận nên đứng ra làm lễ thành hôn đàng hoàng. Khi về nhà chồng, bà được ông trưởng giả hết sức cưng yêu chiều chuộng, nên bà muốn gì được đó. Mỗi khi trời lạnh, ông lo cho bà đầy đủ nệm ấm chăn êm. Đến lúc trời nóng, ông lo quạt mát cho bà. Nói chung, từ ăn uống, vui chơi, sinh hoạt, làm việc, cho đến ngủ nghỉ, ông đều lo cho bà đầy đủ chu đáo hết tất cả, mọi nhu cầu cần thiết không thiếu một thứ gì.

Kế đến bà vợ thứ hai, bà ta đúng là một trang tuyệt sắc giai nhân, xinh đẹp chẳng khác nào nàng Tây Thi năm xưa ở bên Tàu. Mặc dù nàng không được cưng chiều như bà thứ nhất cho lắm, nhưng bà thứ hai vì quá xinh đẹp, kiều diễm, dễ thương, nên làm cho ông trưởng giả đắm say, mê mẫn, tê tái cả tâm hồn. Thậm chí, mỗi khi bà có chuyện bận phải đi xa, lâu ngày mới về, ông trưởng giả thầm thương, trộm nhớ, đứng ngồi không yên, có khi quên cả ăn uống, thức sáng suốt thâu đêm mà nhớ thương về nàng. Những khi bà vắng nhà hơi lâu, ông trưởng giả rầu rĩ lo âu, buồn khổ, mong nhớ ngày đêm như kẻ mất hồn, nhiều khi ông ta muốn tìm cách tự tử quyên sinh, chết phức cho rồi mỗi khi vắng bà.

Còn bà vợ thứ ba tuy không đầm thắm và mặn nồng như hai bà trước, nhưng lâu ngày chung chạ ăn nằm với nhau, tình cảm vợ chồng cũng trở nên đậm đà, sâu sắc, và càng ngày sống có tình nghĩa hơn. Do đó, ông trưởng giả đối với bà cũng có chút ân nghĩa khi cần, mà chia sẻ nâng đỡ cho nhau những nỗi khổ niềm đau, và cùng vui sống, yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau.

Rồi đến bà vợ thứ tư, bà này hình như suốt cả đời chịu nhiều phiền muộn khổ đau, đắng cay tuổi nhục, bởi bà rất thương yêu, chiều chuộng, chăm sóc ông trưởng giả hết mình. Công việc dù khó khăn, cực khổ, nhọc nhằn đến đâu, bà cũng ráng cố gắng lo chu toàn mọi thứ. Nhưng ngược đời thay, ông trưởng giả chẳng thèm để ý hay quan tâm, thương tưởng đến bà, thậm chí nhiều khi còn đánh đập, xua đuổi, hắt hủi bà như kẻ hầu, người ở.

Riêng đối với bà vợ thứ tư, lúc nào bà cũng có mặt bên ông như bóng với hình, chẳng bao giờ rời xa một bước. Thế mà ông chẳng thèm ngó ngàng gì đến, chỉ quan tâm thương tưởng đến ba bà kia, làm cho bà thầm thương trộm nhớ, khổ sở vô cùng, tuy sống gần gũi bên ông nhưng giống như kẻ âm người dương cách biệt nghìn trùng.

Đức Phật đã kể câu chuyện này khi Ngài còn tại thế để khuyên nhủ và răn dạy hàng đệ tử chúng ta.

Dân gian hay nói: một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chèo quèo, bốn vợ ngủ chuồng heo.

Câu chuyện trên là một bài pháp sống động với ẩn dụ sâu sắc, nhằm giúp chúng ta biết soi sáng lại chính mình mà nhận ra lẽ thật hư trong cuộc đời. Phật đưa ra hình ảnh bốn bà vợ là để ám chỉ cho bốn thứ gần gũi nhất trong đời sống hằng ngày của chúng ta, nhưng ta nào hay biết, cứ mãi vui chơi, lao mình chìm đắm trong biển khổ sông mê mà luống để thời gian trôi qua vô ích. Cho nên:

 Trăm năm trước khi ta chưa có
 Thời gian vẫn trôi qua lặng lẽ.
 Trăm năm khi ta đang có mặt
 Thời gian vẫn âm thầm qua mau.

 Trăm năm sau khi ta chết
 Thời gian không vì thế mà buồn rầu.
 Ta chỉ tiếc để thời gian suông
 Mà buông lung làm việc vô nghĩa. 


Một hôm, ông trưởng giả bệnh nặng, biết mình khó qua khỏi con trăng này, nên ông cho mời bốn bà vợ lại để hỏi xem có bà nào chung thủy, phát tâm theo ông về thế giới bên kia hay không?

Ông quay sang hỏi bà vợ thứ nhất, “bà có phát tâm theo tôi về bên kia thế giới vĩnh hằng hay không?”

Bà thứ nhất nói rằng, “xin anh hãy thông cảm và tha thứ cho em, em vẫn biết và nhớ ơn anh rất nhiều. Cuộc sống của em bao nhiêu năm nay nhờ anh tận tình lo lắng, chăm sóc, giúp đỡ, em thật thoải mái và an lạc hạnh phúc. Anh đúng là mẫu người chồng lý tưởng có một không hai trên cõi đời này. Chính vì vậy, em luôn yêu thương và nhớ ơn anh vô cùng. Nhưng bây giờ, anh bảo em theo anh về bên kia thế giới vĩnh hằng để cùng chung sống với nhau cho trọn tình trọn nghĩa thì không thể nào được. Anh hãy thông cảm và tha thứ cho em, vì ai cũng có nhân duyên và hoàn cảnh khác nhau.

Mặc dù em không được ở gần bên anh, vắng anh em sẽ thiếu thốn, khó khăn, khổ sở vô cùng. Thà rằng em chịu cô đơn, đau khổ một mình, chứ em không thể nào đi theo anh được, xin anh hãy khoan dung độ lượng mà cảm thông và tha thứ cho em. Vì tình nghĩa vợ chồng bấy lâu nay, nếu anh có chết đi, em sẽ tiễn đưa anh ra tới cổng nhà là cũng quý và tình nghĩa lắm rồi”. 

Ông trưởng giả nghe bà thứ nhất nói như vậy, hai hàng lệ rơi lăn tròn trên khóe mắt, ngậm ngùi đau khổ quay sang bà vợ thứ hai, “còn em? Em có thể theo anh về thế giới bên kia hay không, hỡi em yêu dấu?”

Bà thứ hai thì thông minh lanh lợi hơn, nên nhanh nhẫu trả lời rằng, “Anh cứ yên chí đi, anh khỏi phải bận bịu lo lắng chuyện đó nữa, vì chúng ta ai cũng có phúc có phần. Bình thường lúc đương thời, anh thương yêu chăm sóc và lo lắng cho em thật nhiều, em rất biết ơn anh đã sống có tình có nghĩa với em như thế. Nhưng em bây giờ còn trẻ đẹp, còn xinh xắn, còn dễ thương, còn mi nhon, nên rất được nhiều người ngắm nghía thèm thuồng, thương tưởng đến em, tương lai của em còn tràn đầy sức sống và hy vọng. Nếu anh có ra đi về bên kia miền đất hứa, thì xin anh hãy cảm thông mà âm thầm lặng lẽ một mình cất bước. Em hiện giờ tương lai còn xán lạn, do đó cần phải tìm một đấng lang quân để nương tựa lâu dài và sống hết quãng đời còn lại. Nghĩ tình anh thương yêu chiều chuộng và lo lắng cho em trong nhiều năm qua, em nghĩ chút tình sẽ tiễn đưa anh ra tới cửa nhà, vậy cũng là quý lắm rồi anh ạ”.

Nghe bà thứ hai nói vậy, ông trưởng giả như đứt từng khúc ruột, đau xót não nề mà quay sang bà vợ thứ ba, “còn em thì sao? Em có thể theo anh về bên kia miền đất hứa?

Bà vợ thứ ba nghe ông trưởng giả hỏi vậy, bà ta vừa khóc vừa nói, “Lúc anh còn mạnh khỏe, anh chỉ biết lo cho chị cả và chị hai mà ít bao giờ quan tâm, đoái hoài, thương tưởng đến em. Tuy nhiên, vẫn có những lúc anh hết mực yêu thương em chân thành. Nghĩ chút tình chồng nghĩa vợ bấy lâu nay, sau khi anh về thế giới bên kia, em sẽ đưa anh ra tận nghĩa trang để lo cho anh yên mồ yên mã, sau đó em sẽ cúng tế, giỗ chạp cho anh đầy đủ, để trả lại công ơn anh đã thương tưởng, đoái hoài đến em khi còn sống. Còn việc phải đi theo anh về bên kia miền đất hứa thì không thể nào được, em còn phải có bổn phận, trách nhiệm đối với gia đình người thân, xin anh hãy hiểu và thông cảm cho tấm lòng thành thật của em”.

Như tiếng sét đánh ngang tai, bao nhiêu mộng đẹp bấy lây nay bây giờ tan tành theo mây khói, ông trưởng giả rụng rời tay chân, toát cả mồ hôi hột, cảm thấy khổ đau vô cùng, chẳng còn biết nghĩ gì hơn, ông đành chấp nhận nhắm mắt xuôi tay, mặc cho số phận ra sao cũng được.

Lúc này, bà vợ thứ tư như hiểu được tâm trạng của ông đang muốn gì, nên bà mới ân cần nói rằng, “này anh yêu dấu của em! Anh chớ nên lo buồn quá đáng. Anh cứ yên chí đi, em sẽ là người theo anh suốt cả cuộc hành trình, dù anh có đến chân trời góc biển xa xôi nào, hoặc lên thiên đường hay xuống địa ngục. Mặc dầu bình thường anh chỉ quan tâm, lo lắng cho chị cả, chị hai và chị ba, chẳng bao giờ anh biết nhớ nghĩ và thương tưởng đến em, thật ra em cũng rất đau buồn và khổ sở lắm chứ; nhưng dù sao, chúng ta vẫn là vợ chồng với nhau, nghĩ chút tình chồng vợ, em sẽ nguyện theo anh trong suốt ba cõi sáu đường. Anh cứ yên chí vì đã có em kề cận, không rời xa anh nửa bước, anh đi tới đâu thì em sẽ theo anh tới đó”.

Nghe được những lời nói ngọt ngào và êm dịu như thế, ông trưởng giả như được mãn nguyện, liền vui lòng nhắm mắt ra đi.

Đây là một bài kinh ẩn dụ mang một triết lý sâu sắc, để lại cho mỗi hành giả phải suy ngẫm, quán chiếu, soi sáng, và có sức định tĩnh trong tu tập, mới có thể hiểu thấu hết lời Phật dạy. Tại sao Phật không dùng một hình ảnh nào khác để thí dụ, mà lại dùng hình ảnh bốn bà vợ với mục đích gì? Vì hình ảnh này luôn luôn gần gũi với đời sống hằng ngày của chúng ta, nhằm phá sự chấp trước do si mê tham đắm, mà thấy biết sai lầm không đúng với lẽ thật về thân phận của một kiếp người.

Hình ảnh bà vợ thứ nhất, Phật dụ cho sắc thân của mỗi người chúng ta.

Hình ảnh bà vợ thứ hai, Phật dụ cho tiền bạc của cải của chúng ta ở trong nhà. Ta đi đâu đó cũng đều có tiền trong túi và không thể thiếu nó. Nhưng khi chúng ta chết, nó chỉ nằm trong tủ hoặc két sắt thuộc phạm vi trong nhà, vì vậy mà bà vợ thứ hai chỉ nói đưa tới cửa mà thôi.

Hình ảnh bà vợ thứ ba, Phật dụ cho ông bà cha mẹ và họ hàng thân thuộc của hai bên chồng vợ. Người vợ thứ ba dụ cho sự nghiệp gia đình người thân, công danh chức tước. Khi đưa quan tài người chết tới huyệt thì họ đọc điếu văn kể công trạng, rồi mới hạ huyệt chôn cất, nên nói đưa tới mộ.

Hình ảnh bà vợ thứ tư, Phật dụ cho việc làm của mỗi người chúng ta được lập đi lập lại nhiều lần từ thân miệng ý, từ vô thủy kiếp đến nay, hay còn gọi là thói quen hoặc nghiệp báo. Cho nên, bà vợ thứ tư dụ cho nghiệp lành hay nghiệp dữ luôn theo ta như hình với bóng, ta ở đâu thì nó theo đó không rời nửa bước, chính vì thế mới tình nguyện chết theo.

Ai cũng vậy, lúc còn sống thì ta thương yêu quý tiếc gìn giữ sắc thân, tiền bạc của cải, và lo lắng bảo vệ cho gia đình người thân, nên từ đó ta dễ dàng gây tạo nhiều tội lỗi. Đến khi sắp chết lìa đời, ba thứ ta hay lo lắng, quý tiếc gìn giữ thân thương nhất, lại không thể nào mang theo được, mà chỉ mang theo nghiệp lành hay nghiệp dữ đã làm trong hiện tại.

Khi ta chuẩn bị từ giã cõi đời thì ba thứ thân thương nhất ta đều phải bỏ lại hết, duy chỉ có bà vợ thứ tư là ẩn dụ cho nghiệp báo tốt xấu của mỗi người, nó theo ta như bóng với hình, ta sinh ra chỗ tốt hay đọa vào chỗ xấu là tùy thuộc vào việc làm và thói quen của ta trong hiện tại. Nó sẽ theo ta trong suốt cuộc hành trình với những đời sống kế tiếp.

Thật ra, chết không phải là hết, mà chết chỉ là thay hình đổi dạng để tiếp tục đời sống mới trong ba cõi sáu đường, trời, người, A Tu La, và địa ngục, quỷ đói, súc sinh. Hai loại chúng sinh ta dễ dàng nhìn thấy nhất là con người và các loài súc sinh. Còn bốn con đường kia, khi ta có sự thể nghiệm trong quán chiếu tu tập, ta mới có thể thấy rõ tường tận từng cảnh giới sống của chúng. 

Nhìn vào thực tế trong đời sống nhân gian bằng sự quán sát và xem xét, ta có thể thấy chư Thiên vẫn hiện hữu nơi cõi người. Như những người giàu sang nhiều tiền bạc của cải, họ có quyền cao chức trọng, nhưng họ vẫn sống có nhân cách và đạo đức, luôn luôn giúp người cứu vật, sống vì lợi ích tha nhân nhiều hơn là chính mình. Đó là chư Thiên hiện tiền trong thế giới con người chúng ta.

Có nhiều người tuy thường xuyên gieo trồng phước đức, giúp người cứu vật, và sẵn sàng san sẻ giúp đỡ khi gặp người khó khăn hoạn nạn, bất hạnh khổ đau, nhưng tính tình còn nhiều nóng giận hay la rầy, nói nặng nói nhẹ, mắng chửi người khác, do đó hiện tướng A Tu La ngay nơi cuộc sống này.

Ai đang làm từ thiện để đóng góp sẻ chia thì hãy nên suy xét lại, nếu không khéo tuy có lòng giúp đỡ tha nhân, nhưng làm cho người ta sinh tâm ganh ghét, giận hờn, có khi gây thù chuốc oán, phản tác dụng trở thành oan gia trái chủ.

Ai trực tiếp giết hại người vật một cách tàn nhẫn, dã man, không thương tiếc, chế tạo vũ khí để xúi người ta giết chóc hoặc mở lò sát sinh, luôn gây chiến tranh để nhân loại tàn sát giết hại lẫn nhau, thì địa ngục sẽ hiện tiền nơi cõi Ta Bà này. Người Phật tử chân chính không trực tiếp, hay xúi bảo, hoặc vui vẻ khi thấy người khác giết hại, thì tránh được khổ báo không bị đọa địa ngục trong hiện tại và tương lai.

Kẻ tham lam bỏn sẻn có nhiều tiền của không đem ra giúp người khi gặp thiếu thốn khó khăn, thà để hư mục, hoặc bóc lột sức lao động của con người và vật quá đáng. Tuy giàu có nhưng không bao giờ biết mở lòng với ai, mà còn tìm cách vơ vét về cho riêng mình, tâm địa ích kỷ, san tham, hẹp hòi là nhân bị đọa vào loài quỷ đói, để chịu khổ báo đói khát vô lượng kiếp.

Tóm lại, vì sự sống của riêng mình và người thân, hay rộng hơn là một đất nước mà ta đành lòng giết hại gây đau khổ cho nhau cũng chỉ miếng ăn thức uống, hay các nhu cầu cần thiết khác. Phật dạy, đời sống của chúng ta là một chuỗi dài nhân duyên, liên quan mật thiết với nhau.

Dù ta có tài giỏi đến đâu cũng phải nương nhờ lẫn nhau theo tiến trình diễn biến nhân quả mới bảo tồn mạng sống, ta không làm ruộng nhưng vẫn có cơm để ăn, ta không dệt vải nhưng vẫn có quần áo để mặc, và cứ tương tự như thế các nhu cầu cần thiết khác cũng lại như vậy. Chính vì thế, Phật dạy chúng ta cần phải có bổn phận, trách nhiệm, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết, trên tinh thần vô ngã vị tha.

SẮC THÂN GIẢ HỢP

Có một hạng người vì quá bi quan về thân này, cho nó là bất tịnh, xấu xa nhơ nhớp, nên chán ghét, muốn hủy hoại vì sự không trong sạch. Từ ngàn xưa, khi Phật còn tại thế cho đến ngày hôm nay, tại Ấn Độ vẫn còn tồn tại lối tu khổ hạnh ép xác, vì họ cho rằng chính thân này làm cho ta đau khổ, nên họ bằng đủ mọi cách để hành hạ thân thể, họ nghĩ như vậy sẽ mau chứng quả giác ngộ giải thoát.

Chính đức Phật ngày xưa đã từng tu khổ hạnh như thế liền sáu năm cho đến thân thể tiều tụy chỉ còn da bọc xương, và cuối cùng Ngài ngất xỉu, may nhờ bát sữa của cô thôn nữ chăn bò đã giúp Ngài tỉnh lại. Từ đó, sức khỏe dần dần hồi phục trở lại nhờ biết ăn uống điều độ vừa đủ để nuôi thân, Ngài bắt đầu có sức định tĩnh, và sáng suốt để tìm ra pháp tu trung đạo, và cuối cùng thực chứng quả vị Vô Thượng Bồ Đề.

Để phá sự chấp ngã bám víu vào sắc thân này, Phật dạy các thầy tỳ kheo hãy nên quán thân bất tịnh, các thầy quán thấy thân này nhơ nhớp xú uế quá, nên nhàm chán muốn xa lìa, mà mướn người giết đi để không còn thấy thân gớm ghiết đó nữa. Mùa hạ năm đó, Phật tránh duyên ba tháng lên cõi trời Đao Lợi để độ mẹ của mình là hoàng hậu Ma Da, sau khi trở về thấy chúng tỳ kheo thưa thớt, Phật hỏi thị giả A Nan mới biết nguyên nhân, kể từ đó Phật chế giới không ai được mướn người giết, nếu mướn hay tự tay giết mình đều là phạm giới cấm.

Thời đó, có một số thầy tỳ kheo vì quá chấp trước, Phật dạy quán bất tịnh để ta không còn chấp thân này là thật của mình nữa, mà dễ dàng buông xả, diệt trừ tâm luyến ái, tham đắm sắc thân. Tuy nhiên, Phật vẫn dạy thân người khó được, không phải để ta quý thân, mà để tranh thủ tận dụng thời gian nương nơi thân này để tu hành. Với cặp mắt của người giác ngộ, ta vẫn thấy thân này giả tạm vô thường, nhưng ta phải giữ thân để làm phương tiện tiến tu.

Hình ảnh bà vợ thứ nhất là chỉ cho sắc thân mỗi người chúng ta, do ta lầm chấp thân này là ta, là tôi, là của tôi, nên ta một bề cưng yêu chiều chuộng, đắm mến luyến ái thân này quá đáng, làm cái gì cũng để phục vụ cho ta và của ta. Từ chỗ chấp ngã đó nên có ngã sở là của ta như tài sản, vợ con và người thân. Chính vì vậy, thân ta đen lùn xấu, mà ai khen đẹp thì ta khoái chí và hãnh diện vô cùng. Nhưng có ai hỏi ta là cái gì, thì mình không biết. Ta không biết mình là gì thì cuộc sống này trở nên vô nghĩa và không có giá trị thiết thực.

Từ chỗ không biết mình là gì, nên ta coi trọng trời đất, ta vô tình coi thường mình. Trời ở đây nói cho đủ là bầu trời nên có mây, có mưa, sấm chớp, điện năng, mặt trời, mặt trăng, nhờ vậy giúp cho ta đủ điều kiện để sống trên thế gian này.

Đất ở đây nói cho đủ là trái đất, nhờ đất che chở nên trong đất có đủ thiên hình vạn trạng, nào hồ ao, sông suối nước chảy, biển cả mênh mông, thiên nhiên đồi núi bạt ngàn cỏ cây hoa lá. Nhưng trời đất là vô tri, chỉ con người là có hiểu biết, nhận thức và tri giác, nên con người là trọng tâm của trời đất. Vậy mà ta cứ sợ trời phạt, đất không thương, mà lãng quên chính mình, hiểu biết như thế thì tội nghiệp cho ta quá chừng.

Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu phần thô của thân này trước. Thân có bốn chất hòa hợp, chất cứng là đất, chất ướt là nước, hơi thở là gió, hơi ấm là lửa. Phật dạy, thân này tạm bợ giả có nên nó bị sinh già bệnh chết chi phối.

Chuyện kể rằng, có một chàng trai nọ trên đường về quê thăm cha mẹ, đường xá xa xôi hiểm trở. Trời tối, anh ghé lại một chòi hoang không người ở, nghỉ tạm qua đêm để sáng mai tiếp tục cuộc hành trình. Anh vừa chợp mắt, bỗng có tiếng chân dồn dập nặng nề làm anh giựt mình tỉnh giấc. Cánh cửa được mở ra, một con quỷ to lớn đang vác xác người chết liệng xuống nền nhà. Chàng trai nọ quá hoảng sợ nên nép sát vào bên kẹt cửa. Lúc đó, lại xuất hiện thêm con quỷ thứ hai muốn giành ăn với con quỷ thứ nhất, nên chúng cãi nhau kịch liệt, “xác này do tao thấy trước thì tao có quyền ăn”, ai cũng dành phần mình.

Trong lúc hai con quỷ đang cãi nhau, nó vô tình thấy chàng trai đứng sát kẹt cửa. Mừng quá! Con quỷ thứ nhất nhờ anh ta làm chứng coi ai mang xác vào trước. Chàng trai nghe nói vậy sợ điếng cả hồn, trong tâm nghĩ thầm trong bụng, “nếu mình nói sự thật thì sẽ bị con quỷ kia xé xác, ngược lại nếu nói không đúng sự thật thì con quỷ thứ nhất sẽ giết mình, đằng nào cũng phải chết, thôi thì ta thà giữ giới nói đúng sự thật, dù có chết vẫn vui lòng”.

Anh ta nói, “hồi nãy tôi thấy con quỷ đen vác cái xác này vô đây trước”. Con quỷ đỏ nghe nói vậy liền tức quá, giựt đứt một cánh tay của anh. Con quỷ đen thấy vậy thương tình, nên lấy cánh tay của xác chết thế vô cho anh. Con quỷ đỏ lại không chịu nên giựt cánh tay kế tiếp quăng ra. Con quỷ đen lại ráp vô, rồi chân cẳng đầu mình cũng lại như thế, một con vứt ra, một con ráp vô.

Cuối cùng, hai con quỷ không thèm tranh giành nữa, chúng lấy phần bị vứt ra của chàng trai, mạnh con nào nấy ăn một cách ngấu nghiến. Thừa lúc hai con quỷ đang ăn, chàng trai hồn vía lên mây, nhân cơ hội đó liền bỏ chạy để thoát khỏi nanh vuốt của chúng. Chạy được một khoảng cách an toàn, mừng quá anh ta đứng lại rờ xem thân thể của mình từ đầu tới chân, coi có phải là mình nữa hay không? Rõ ràng, anh ta thấy thân này không phải là của mình, mà đang vay mượn của xác chết kia, vậy mình trước kia đâu rồi?

Phật dạy thân này sinh già bệnh chết, chỉ giả có, huyễn hóa nên không thật, mà lâu nay ta cứ lầm chấp, rồi cố gắng gìn giữ, bảo vệ nó, ai đụng đến là có chuyện. Như câu chuyện ngụ ngôn về hai con quỷ ăn thịt người, người trí liền nhận ra thân này không phải thật ta, là của ta, cái gì thiệt thì trước sau như một không đổi thay. Tuy thân giả tạm vô thường không thật có, nhưng chúng ta phải biết bảo vệ nó để làm phương tiện tiến tu, như người đi qua sông thì cần có chiếc bè.

Bây giờ, chúng ta thử xem xét về thân này từ đâu mà ra, muốn có thân trước tiên phải nhờ tinh cha huyết mẹ, kết hợp với nghiệp thức của một chúng sinh, phải có đủ ba yếu tố trên mới hình thành được sắc thân. Nhưng thân này do bốn chất đất, nước, gió, lửa hòa hợp lại mới duy trì được sự sống, hằng ngày phải nhờ bốn đại bên ngoài bồi bổ đưa vô. Chính vì vậy, mỗi ngày ta phải ăn uống, làm việc, để duy trì mạng sống nhờ bốn chất này, nếu thiếu đi một chất thì thân sẽ ngừng hoạt động.

Rõ ràng, chúng ta chỉ toàn vay mượn, sáng sớm đưa chút thức ăn thức uống vào, rồi trưa chiều đưa ra, rõ ràng ta vay mượn liên tục, cứ đưa vô rồi lại xả ra, lỡ bữa nào đưa vô mà xả ra không được thì khó chịu, khổ sở vô cùng.

Như thời gian mẹ chúng tôi bệnh nặng chờ chết, ăn uống không được phải trực tiếp bơm vào, nhưng vẫn đi tiểu đại bình thường. Rồi chỉ trong vòng mười hai đến hai mươi bốn tiếng đồng hồ cũng bơm thức ăn, thức uống đó vào mà không thấy xả ra, tay chân mình mẩy cứ phù lên, và huyết áp tuột xuống thấp. Đó là dấu hiệu một con người sắp sửa ra đi và đúng như vậy.

Trở lại câu chuyện hai con quỷ, chàng trai từ khi gặp nhân duyên đó nên cứ thắc mắc hoài, “rõ ràng thân mình đang mang là của cái xác chết kia, vậy mình là gì?”. Anh ta cứ ôm thắc mắc đó hoài. Cho đến khi gặp một vị sa môn, anh mới đem sự nghi ngờ đó mà thưa hỏi. Thay vì trả lời tường tận cho anh ta, vị sa môn này mới hỏi lại, “bộ thân này là thật của anh hay sao?”. Ngay nơi câu nói đó, anh ta nhận ra đạo lý Phật đà.

Vậy mà ông trưởng giả kia, khi còn sống chỉ một bề yêu thương, chiều chuộng, luyến ái, tham đắm thân, làm cái gì cũng để cho thân này hết, ai đụng đến thì bản ngã phình to ra; nếu làm vua thì muốn giết ai thì giết, muốn phong tiến chức cho ai thì phong, khi đã nghi ngờ một ai thì tru di luôn ba họ theo kiểu nhổ cỏ phải diệt tận gốc để khỏi phải sợ báo thù.

Chính vì quan niệm sai lầm đó mà nhân quả thù hằn vay trả không có ngày thôi dứt, nên thế giới lúc nào cũng xảy ra chiến tranh, binh đao, tàn sát, giết hại lẫn nhau, chỉ vì bảo vệ và lo riêng cho cái thân này.

Người Phật tử chân chính phải khôn ngoan sáng suốt, thường xuyên xem xét và quán sát về thân, nhờ vậy biết thân này vô thường, giả tạm, không thật có mà ít đắm nhiễm, mê muội, chính vì vậy ít làm tổn hại cho người và vật. Tuy biết thân vô thường, huyễn hóa do bốn chất đất, nước, gió, lửa hợp thành, nhưng ta không vì thế mà hủy diệt chúng như trường hợp ở trên, ta phải biết dùng thân này để tiến tu mà làm lợi ích cho mình và người.

Như khi ta bị trúng gió thì đau nhức khắp toàn thân, phải cạo gió hoặc giác hơi. Có gì lạ đâu vì gió thổi mạnh thì đất rung rinh, ê mình, đánh gió một hồi nghe nhẹ người trở lại và bớt đau. Nước với lửa cũng vậy. Hôm nào nghe đầu nóng hổi thì biết lửa mạnh quá, phải kiếm thuốc mát uống vô. Khi nào thấy người sưng phù lên là biết nước tăng, phải uống đồ ấm nóng để bình trở lại.

Thân này do bốn thứ chống chọi nhau mà hợp thành, nhiều khi quán chiếu lại chúng ta thấy tức cười. Bản thân mình thực tế đã không hòa thuận, nên mình phải điều hòa hoài? Tâm cũng vậy, có lúc nghĩ tốt, có khi nghĩ xấu, hết nghĩ chuyện này lại đến chuyện kia. Cái suy tư nghĩ tưởng, bản chất nó đã tự mâu thuẫn với nhau. Bản thân mình tự không thể hòa được, nên phải chịu sự chi phối của già bệnh chết, thì thử hỏi làm sao chúng ta có thể sống hòa hợp với tất cả mọi người. Chưa có người nào tự điều hòa được trọn vẹn vì bản chất nó là như vậy. Nếu chúng ta tự điều hòa được thì khỏi phải đi bác sĩ chữa khám bệnh.

Trong cơ thể chúng ta nước và đất cứ lấn nhau, gió và lửa cũng cự nhau hoài, không cho mình được yên thân chút nào. Cho nên điều hòa thân mình đã khó, điều hòa tâm mình lại càng khó hơn, huống nữa là điều hòa để sống thuận thảo, vui vẻ với tất cả mọi người.

Cho nên, chúng ta sống giữa cuộc đời này là cái vòng lẩn quẩn, hết mâu thuẫn này lại đến mâu thuẫn kia. Về thân bốn thứ đất, nước, gió, lửa thường chống trái nhau, về tâm cũng lại như thế. Vì vậy, nói tới tu hành để chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau, thành an vui hạnh phúc là điều hết sức cay đắng. Chỉ khi nào ta sống được bằng trái tim yêu thương và hiểu biết, ta mới thương xót và cảm thông cho người khác. Ông trưởng giả đó là hiện thân của mỗi người chúng ta, vì chấp thân và luyến tiếc nên mới hỏi bà vợ thứ nhất có chấp nhận đi theo hay không?

Trong khi đó, Phật dạy thân này do bốn chất đất, nước, gió, lửa hòa hợp lại mà thành, nên không có gì là
Lượt xem: 174
Ngày cập nhật: 12/07/2017
Tin tức từ thiện
PHỤNG ÂN TỰ-Đông Lộc-Hòa Thắng-Phú Hòa-Phú Yên .
 Điện Thoại Bàn  : (+84) 2573 886 100 
Thích Giác Đạt ĐT : (+84) 937 655 200 
Chủ Tài Khoản : Lê Văn Thịnh - Thầy Giác Đạt 
STK : 050033100083-Sacombank 
 Email : phungantu@gmail.com
 
Các bài kệ
Pháp thoại MP3
12 bộ kinh ĐT MP3
Liên Hoa Sanh Linkedin
Liên Hoa Sanh Facebook
Xin cúi xuống làm người nhỏ bé Miễn đôi tay làm đẹp cuộc đời Tình thương dâng khắp muôn Nơi ,
Con tim tuy nhỏ nhưng trời Đất ôm  !  Bản quyền thuộc về Báo Phụng Ân Tự 
Biên tập:Thích Giác Đạt-phật tử Nhuận Trí- Diệu Hạnh 
Ghi rõ nguồn  
gmail : phungantu@gmail.com
Địa chỉ : Phung An Tu -Đông Lộc-Hoà Thắng-Phú Hoà-Phú Yên 
Điện thoại bàn :
(+84) 2573 886 100 
 ĐTDĐ :
 (+84) 937 655 200
Website:http://www.phungantu.com